May 13, 2017
42 Views

[Trade Coin] Cách xem biểu đồ – Phân tích kỹ thuật – 7 – Lý thuyết sóng Elliott

Written by

 

Trở lại thập kỷ 1920 – 1930, có một thiên tài điên khùng tên là Ralph Nelson Elliott người đã khám phá ra là thị trường chứng khoán thực sự không biến động một cách hỗn loạn. Thị trường giao dịch theo các vòng lặp đi lặp lại. Elliot đã giải thích là do các thay đổi lên và xuống của tâm lý mọi người luôn luôn thể hiện theo các mẫu lặp đi lặp lại giống nhau, điều này được chia thành các mẫu gọi là sóng (wave). Elliot đã đưa ra một nguyên lý gọi là “Thuyết sóng Elliot”….

Lý thuyết sóng Elliott, tác giả R.N. Elliott khảng định rằng hiệu ứng đám đông luôn hành xử theo một xu hướng lên xuống khá rõ rệt. Dựa vào sự lên xuống và sự bầy đàn này, Elliott đã phát triển và đúc kết ra một trật tự lên xuống của giá cả theo một nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc này dựa trên các sóng lên xuống của giá cả theo một thứ tự có thể dự đoán được. Chúng ta gọi đó là các sóng Elliott. Nếu các bạn đã đi sâu vào phân tích kỹ thuật và tin tưởng vào phương pháp phân tích này thì hãy nghiên cứu kỹ lý thuyết sóng Elliott. Tôi sẽ cùng bạn đào sâu nghiên cứu một lý thuyết cực kỳ hấp dẫn mà nếu bất kỳ một nhà phân tích kỹ thuật nào không biết đến nó thì chỉ có thể là một nhà đầu tư bình thường, không đủ để gọi là nhà phân tích kỹ thuật, bởi vì lý thuyết Dow cùng với lý thuyết sóng Elliot là những gì nền tảng và cơ bản nhất của trường phái phân tích kỹ thuật.

Nhìn chung kể từ nguyên lý sóng Elliott ra đời thì nó đã thực phân tích, xác nhận, tinh lọc và cải tiến một cách có hệ thống và thống kê. Những điểm mạnh được thừa nhận, những điểm yếu được nhận diện và được điều chỉnh. Kết quả đạt được là một công cụ dự báo thị trường chính xác và hiệu quả hơn chưa từng thấy. Đó chính là Nguyên lý sóng Elliott tinh tuyển. Góp phần cho quá trình nghiên cứu đó chỉnh là nhờ lòng nhiệt huyết của Richard Swannel và nhóm nghiên cứu của ông.

• Kể từ sau khi Elliott khám phá rằng những mô hình trong những đồ thị giá của các thị trường có tính thanh khoản là kết quả của cảm xúc đám đông con người, thay đổi từ hy vọng đến sợ hãi và ngược lại thì Nguyên lý sóng Elliott trở thành đề tài gây tranh cãi liên miên. Người ta nói rằng nếu bạn có thể sắp xếp 10 nhà phân tích kỹ thuật sóng Elliott trong một căn phòng để thảo luận dự báo sóng Elliott cho một đồ thị riêng biệt thì bạn sẽ có ít nhất 12 ý kiến. Những chuyên gia về sóng Elliott thường bất đồng ý kiến với nhau bởi vì họ thường có những quan điểm khác nhau về cách hiểu Nguyên lý sóng Elliott. Và trong những mô hình sóng Elliott thì có dạng cổ điển và dạng hiện đại vì thế đôi khi sẽ gây khá nhiều tranh cãi.

Nếu chưa tìm hiểu lý thuyết Dow mà đi sâu vào lý thuyết sóng Elliott thì bạn giống như là học lớp 2 mà chưa học lớp 1 vậy. Mọi thứ sẽ rất mơ hồ và ngờ vực. Lý thuyết Dow chỉ ra xu hướng chính, trong xu hướng chính lại chia ra các xu hướng thứ cấp. Lý thuyết Dow cũng chỉ ra những điều chỉnh của xu hướng thứ cấp trong xu hướng chính. Lý thuyết sóng Elliott sẽ gọi tên cụ thể các xu hướng thứ cấp và các xu hướng nhỏ hơn của các xu hướng thứ cấp để làm mọi vấn đề trở nên rõ ràng hơn. Lý thuyết sóng Elliott cơ bản đưa ra 5 sóng cho xu hướng lớn và 3 sóng cho xu hướng điều chỉnh. Vậy chúng ta tạm hiểu 5-3 là cặp số cơ bản của lý thuyết sóng Elliott. Tôi sẽ cùng bạn chỉ ra cụ thể hơn về cặp số 5-3 này.

phân tích sóng Elliott cần phần tích theo M30 H4 D1

Chúng ta vừa đề cặp đến cặp số 5-3 của Elliott: 5 sóng chính và 3 sóng điều chỉnh.

Giờ chúng ta phân tích rõ hơn về 5 sóng chính. Chúng ta sẽ gọi tên các sóng chính là: 1,2,3,4 và 5.
Chúng ta gọi tên 3 sóng điều chỉnh là a,b, và c.

Vậy cơ bản chúng ta sẽ có đồ thị sóng Elliott cơ bản nhất dựa theo lý thuyết Dow như sau:

Theo lý thuyết Dow, ta có sóng tăng chính và sóng giảm chính. Sóng tăng chính chúng ta chia làm 5 sóng 1,2,3,4 và 5. Còn sóng giảm chính ta chia làm 3 sóng A, B và C.
Theo lý thuyết Dow, chúng ta gọi các sóng 1,2,3,4,5,A,B và C là các sóng thứ cấp. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể gọi 1,2,3,4,5,A,B và C trên hình vẽ là các sóng dài hạn. Trong các sóng dài hạn này thì có sóng 2, sóng 4 và sóng B là các sóng điều chỉnh vì các sóng này đi ngược hướng với xu hướng chính.

1 sóng dài hạn lại chia ra thành 5 hoặc 3 sóng trung hạn và 1 sóng trung hạn lại chia ra thành 5 hoặc 3 sóng ngắn hạn. Để biết chia ra thành 5 sóng nhỏ hơn hay chia thành 3 sóng nhỏ hơn chúng ta lại xem xét sóng bị chia có phải là sóng điều chỉnh trong xu hướng lớn hơn không. Nếu là sóng điều chỉnh thì chia làm 3 sóng A, B, C. Nếu không phải là sóng điều chỉnh thì chia làm 5 sóng 1,2,3,4,5. Như vậy các sóng dài hạn 1,3,5,A,C được chia làm 5 sóng; các sóng dài hạn điều chỉnh 2,4,B được chia làm 3 sóng a,b,c. Và chúng ta có các sóng trung hạn như hình vẽ bên dưới. Đếm các sóng trung hạn chúng ta có như sau:
12345abc12345abc12345, 12345abc12345.

Trên đồ thị chúng ta cũng chia ra các sóng ngắn hạn dựa vào các sóng trung hạn và dài hạn. Khi đó sóng trung hạn là sóng bị chia và sóng dài hạn được xem là xu hướng chính. Nếu sóng trung hạn nào ngược hướng với sóng dài hạn thì được xem là sóng trung hạn điều chỉnh và chỉ chia ra làm 3 sóng ngắn hạn. Còn các sóng trung hạn cùng hướng với sóng dài hạn thì được chia ra làm 5 sóng ngắn hạn. Nhìn hình trên chúng ta có cách chia sóng ngắn hạn.

Và cứ thế chúng ta có thể chia các sóng ngắn hạn thành 5 hoặc 3 sóng nhỏ hơn nữa nếu muốn. Đó là lý thuyết nền tảng nhất của lý thuyết sóng Elliott. Chúng ta có thể áp dụng lý thuyết này vào phân tích thị trường chứng khoán.

Các nguyên tắc chia sóng mà chúng ta cần phải nhớ như sau:
1. Đáy sóng 2 không được hồi về bằng hoặc hơn đợt tăng của sóng 1.
2. Trong 3 sóng 1,3 và 5 thì sóng 3 không được là sóng ngắn nhất.
3. Sóng 1 và sóng 4 không được có vùng giá chung.
4. Điểm cuối sóng 3 phải đi xa hơn điểm cuối sóng 1 và điểm cuối sóng 5 phải đi xa hơn điểm cuối sóng 3.
5. Nếu sóng 3 là sóng dài nhất thì sóng 1 và sóng 5 sẽ tương đương hoặc bằng nhau
6. Nếu sóng 2 tăng/giảm nhẹ hoặc sideway thì sóng 4 tăng/giảm mạnh. Nếu sóng 2 tăng/giảm mạnh thì sóng 4 tăng/giảm nhẹ hoặc sideway.

 

The 5 – 3 Wave Patterns (Mẫu sóng 5-3)

Ông Elliot đã chỉ ra rằng một thị trường biến động dưới dạng gọi là “mẫu sóng 5-3”. Mẫu 5-wave đầu tiên được gọi là sóng tới (impulse waves) và mẫu 3-wave sau đó được gọi là sóng lui (corrective waves).

Trước tiên hãy nhìn mẫu sóng tới 5-wave :


Có vẻ như có gì đó lộn xộn. Hãy thêm màu cho hình vẽ :


Bây giờ mỗi bước đếm của sóng đã được tô màu khác nhau.

Đây là một mô tả ngắn gọn cho biết điều gì diễn ra trong mỗi pha sóng. Tôi sẽ sử dụng chứng khoán để làm ví dụ bởi vì Ông Elliott đã sử dụng chứng khoán. Điều này vẫn đúng với tiền tệ, kỳ phiếu, vàng, dầu … Điều quan trọng là Thuyết sóng Elliott vẫn đúng đối với forex.

Wave 1 (Sóng – 1)

Chứng khoán tăng lần đầu tiên. Điều này thường là do một lượng khá nhỏ người bất ngờ nghĩ rằng giá trước đó của chứng khoán là một món hời và đáng để mua, khi họ thực hiện mua và đã tạo nên giá tăng.

Wave 2 (Sóng – 2)

Chứng khoán được quan tâm đánh giá quá cao. Tại điểm này đã đủ lượng người đánh giá cao chứng khoán trong pha sóng ban đầu và người ta bắt đầu thu lợi bằng cách bán ra. Điều này làm cho chứng khoán đi xuống. Tuy nhiên, chứng khoán không đạt trở lại mức thấp trước đó trước khi chứng khoán một lần nữa được nghĩ là rẻ.

Wave 3 (Sóng – 3)

Đây là pha sóng dài nhất và mạnh nhất. Nhiều người đã để ý đến chứng khoán, nhiều người muốn chứng khoán và họ mua nó với giá ngày càng cao. Pha sóng này thường vượt qua đỉnh cuối cùng của pha sóng thứ nhất.

Wave 4 (Sóng – 4)

Tại điểm này người ta một lần nữa thu lợi bởi vì chứng khoán một lần nữa được xem như giá cao. Pha sóng này có xu hướng yếu bởi vì thường vẫn có nhiều người tiếp tục đầu cơ chứng khoán và sau khi một số người thu lợi pha sóng thứ 5 xuất hiện.

Wave 5 (Sóng – 5)

Đây là thời điểm nhiều người quan tâm đến chứng khoán nhất và hầu hết bị ảnh hưởng bởi tâm lý. Mọi người sẽ nghĩ ra nhiều lý do để mua chứng khoán và sẽ không lắng nghe các lời khuyên ngăn cản. Đây là thời điểm giá chứng khoàn tăng cao nhất. Tại thời điểm này sẽ có sự kháng cự và mọi người bắt đầu bán và giá chứng khoán chuyển sang mẫu ABC.

ABC Correction (Điều chỉnh ABC)

Khi sóng đẩy hoàn thành, thị trường sẽ điều chỉnh sau đó và đổi chiều bởi 3 sóng ngược xu hướng chính. Chữ được sử dụng thay cho số để phân biệt giữa sóng đẩy và sóng điều chỉnh. Dưới đây là ví dụ mô hình 3 sóng điều chỉnh.

Chúng tôi lấy ví dụ về thị trường tăng điểm không có nghĩa lý thuyết sóng Elliott không thể áp dụng cho thị trường giảm điểm. Mô hình sóng 5-3 cũng có thể như sau:

Theo Elliott, có 21 mô hình sóng điều chỉnh ABC từ đơn giản đến phức tạp.

“Trời đất ơi, 21 ư, làm sao tôi có thể nhớ hết tất cả!”

Thực tế nó khá dễ dàng. Điều tuyệt vời về sóng Elliott là bạn không phải ghi nhớ tất cả 21 dạng sóng điều chỉnh ABC bỏi vì nó được hình thành bởi 3 mẫu rất đơn giản và dễ hiểu.

 

Xu hướng sóng tới (5-wave) sau đó giảm và đảo chiều sang xu hướng sóng lui (3-wave). Các ký tự được sử dụng thay thế cho số để đánh dấu. Xem ví dụ về sóng lui (3-wave) bên dưới :


Chúng ta sử dụng thị trường tăng giá (Bull market) là ví dụ, điều này không có nghĩa là thuyết sóng Elliot không đúng đối với thị trường giảm giá (Bear market). Đối với thị trường giảm giá, mẫu sóng 5-3 có dạng như sau :


Các pha sóng phụ trong một sóng :

Một điều quan trọng khác mà bạn phải biết về thuyết sóng Elliot là một sóng được tạo bởi các sóng phụ (sub-wave). Hãy để tôi chỉ cho bạn một hình khác.


Bạn có thấy cách sóng-1 được tạo bởi một mẫu sóng tới (5-wave) nhỏ hơn và sóng 2 được tạo bởi một mẫu sóng lui (3-wave) nhỏ hơn? Mỗi sóng gồm các mẫu sóng nhỏ hơn

Hãy xem một ví dụ thật tế :


Như bạn thấy, các pha sóng trong thực thế không hoàn toàn giống như trong lý thuyết và đôi khi rất khó để đặt tên cho các pha sóng.

Hãy nhớ rằng thì trường biến động theo các pha sóng. Bây giờ khi bạn nghe một ai nói rằng “sóng 2 kết thúc” thì bạn sẽ biết anh ta đang nói về cái gì

ZIC ZAG

Zig zag là mô hình hiệu chỉnh ba sóng, ngược với xu hướng chính, bị tách thành một chuối 5-3-5. Thông thường, zig zag sẽ xảy ra 2 lần hoặc nhiều nhất là 3 lần. ( Zig zag đôi và zig zag tripple )

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-21 lúc 14.49.49

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-21 lúc 14.50.03

MẶT PHẲNG

Cách phân biệt được sự hiệu chỉnh mặt phẳng với mô hình zig zag là mặt phẳng luôn thé sau mô hình 3-3-5. Nhìn chung thì hình mặt phẳng cho thấy tín hiệu củng cố hơn là hiệu chỉnh và biểu thị sự vũng chắc của thị trường. Chẳng hạn trong những thị trường giá tăng thì sóng B hồi phục lên trên đỉnh của sóng A để khẳng định sự vững chắc của thị trường. Sóng cuối cùng là sóng C kết thúc ngay tại hoặc chỉ ngay dưới đáy sóng A trong khi hình zig zag thì sẽ rơi xâu xuống dưới điểm đó.

Sẽ xuất hiện một dạng khác nữa khi sóng B đạt mức đỉnh của A, nhưng sóng C lại rơi xuống bằng với đáy của A. Hiển nhiên là mô hình này mang ý nghĩa một thị trường tăng giá vững chắc hơn.

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.43.34Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.43.45

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.45.24Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.45.36

 

MÔ HÌNH TAM GIÁC

Tam giác chỉ xuất hiện tại sóng thứ tư và ngay trước vận động cuối cùng theo chiều hướng của xu hướng chính. Vì nguyên nhân này, trong một xu hướng tăng, chúng ta có thể nói rằng tam giác là biểu hiện của cả thị trường đầu cơ giá lên lẫn thị trường đầu cơ giá xuống. Chúng được hiểu là tăng giá khi biểu thị sự hồi phục của xu hướng tăng. Ngược lại, ta hiểu rằng giảm giá nếu chúng thể hiện khả năng đạt đỉnh trong một xu hướng tăng.

Cách diễn giải của Elliot về tam giác tương tự như cách giải thích truyền thống trước đó, nhưng có độ chính xác cao hơn. Như đã nói trong chương 6, tam giác thường là mô hình tiếp diễn. Tam giác của Elliot là một mô hình cũng cố không rõ xu hướng, có 5 sóng trong đó mỗi sóng gồm 3 sóng nhỏ. Elliot chia thành 4 loại tam giác khác nhau: tăng, giảm, đối xứng và mở rộng.

Lý thuyết sóng Elliot cũng cho rằng sóng thứ năm và sóng cuối cùng trong tam giác đôi khi lại phá vỡ đường xu hướng chính của nó, tạo ra một tín hiệu nguỵ tạo trước khi thực sự bắt đầu một cú phá vỡ theo hướng ban đầu.

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.56.07II/ Đặc điểm của sóng Elliot

1. SÓNG TRONG SÓNG

Như chúng ta đã đề cập trước đó, các sóng Elliot là các Fractals. Môi sóng được tạo bởi các sóng phụ. Tôi sẽ cho bạn xem một bức tranh khác về sóng Elliott.

Thú vị phải ko ? Bạn có thấy là sóng 1,3, và 5 được tạo bởi mô hình 5 sóng đẩy trong khi sóng 2 và 4 được tạo bởi mô hình 3 sóng điều chỉnh? Hãy nhớ là mỗi sóng đều bao gồm các mô hình sóng nhỏ hơn. Các mô hình này lập lại chính nó. Mãi mãi…

Để dễ dàng nhận diện những sóng này, lý thuyết sóng Elliott đã phân ra một loạt các loại sóng theo thứ tự từ lớn nhất đến nhỏ nhất:

  1. Grand Supercycle: kéo dài từ vài thập kỷ đến vài thế kỷ
  2. Supercycle: kéo dài từ vài năm đến vài thập kỷ
  3. Cycle: kéo dài từ vài quý đến vài năm
  4. Primary: kéo dài từ vài tháng đến vài năm
  5. Intermediate: kéo dài từ vài tháng đến vài quý
  6. Minor: kéo dài từ vài tuần đến vài quý
  7. Minute: kéo dài từ vài tuần tuần đến vài tháng
  8. Minuette: kéo dài từ vài ngày đến vài tháng
  9. Subminuette: kéo dài từ vài ngày đến vài tuần
  10. Micro: kéo dài từ vài giờ đến vài ngày
  11. Submicro: kéo dài từ vài phút đến vài giờ

 

2. SÓNG ĐẨY MỞ RỘNG

Một điều mà bạn cần phải biết về lý thuyết sóng Elliott là một trong 3 sóng đẩy sẽ luôn luôn được mở rộng. Đơn giản là sẽ luôn có một sóng dài hơn hai sóng còn lại.

Theo Elliott, thường sóng thứ năm sẽ được mở rộng. Tuy nhiên, theo thời gian nó đã thay đổi và rất nhiều người bắt đầu cho là sống thứ 3 là một sóng mở rộng.

3. “SÓNG CỤT” (TRUNCATION)

Thường thường, sóng 5 phát triển trong điều kiện quá bán khi các nhà đầu tư đã nhận diện sóng Elliott một cách khá rõ ràng và họ biết rằng đây có thể là con sóng cuối cùng trong xu hướng tăng. Điều này đôi khi có thể làm cho chiều cao của sóng 5 thấp hơn sóng 3. Được gọi là “sóng cụt” (truncation)

4. “TAM GIÁC CHÉO” (DIAGONAL TRIANGLE)

Tam giác chéo là trường hợp đặc biệt mà sóng 4 có thể đi vào biên độ của sóng 1. Nói một cách khác là sóng 4 và sóng 1 chéo nhau – đây cũng là nguyên nhân xuất hiện tên gọi của nó là “tam giác chéo”

Quy tắc:

  • Mô hình Diagonal Triangle bao gồm 5 sóng.
  • Sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất so với các sóng khác.
  • Sóng 4 và Sóng 1 chéo nhau (vì thế nó có tên gọi là Tam giác chéo), tức là đáy Sóng 4 đi vào biên độ của Sóng 1.
  • Sóng 4 không vượt qua điểm khởi nguồn của Sóng 3.
  • Sóng 5 phải vượt qua điểm cuối của Sóng 3.

Tam giác chéo được phân chia thành 2 loại: Leading Diagonal Triangle và Ending Diagonal Triangle

a) Ending Diagonal Triangle

Mô hình sóng Ending Diagonal Triangle thuộc dạng mô hình sóng chủ xảy ra ở các sóng cuối một cấp độ sóng như sóng 5 hay sóng C. Không nên nhầm lẫn nó với các mô hình tam giác điều chỉnh.

Mô hình sóng Ending Diagonal Triangle là hiện tượng tương đối hiếm đối với các cấp độ sóng lớn mà thường xuất hiện ở các cấp độ sóng thấp hơn trên các đồ thị giá trong ngày (intraday). Thường thì theo sau mô hình Diagonal Triangle là sự thay đổi mạnh về xu hướng thị trường.

Vị trí xuất hiện: Mô hình Ending Diagonal Triangle xuất hiện ở các sóng 5, C.

Cấu trúc sóng bên trong: Mô hình Ending Diagonal Triangle bao gồm 5 sóng và có cấu trúc sóng bên trong theo dạng 3-3-3-3-3.

b) Leading Diagonal Triangle

Mô hình sóng Leading Diagonal Triangle thuộc dạng mô hình sóng chủ thường xảy ra ở đầu một cấp độ sóng như sóng 1 hay sóng A hay nói cách khác nó nằm trong sóng 1 hoặc sóng A. Không nên nhầm lẫn nó với các mô hình tam giác điều chỉnh. Điểm khác của mô hình này với mô hình Ending Diagonal Triangle là các sóng 1, 3 và 5 có cấu trúc sóng bên trong gồm 5 sóng chứ không phải 3 sóng như mô hình Ending Diagonal Triangle.

Cũng như mô hình sóng Ending Diagonal Triangle thì mô hình sóng Leading Diagonal Triangle là hiện tượng tương đối hiếm đối với các cấp độ sóng lớn mà thường xuất hiện ở các cấp độ sóng thấp hơn trên các đồ thị giá trong ngày (intraday). Thường thì theo sau mô hình Diagonal Triangle là sự thay đổi mạnh về xu hướng thị trường.

Vị trí xuất hiện: Mô hình Leading Diagonal Triangle xuất hiện ở các sóng 1 và A.

Cấu trúc sóng bên trong: Mô hình Leading Diagonal Triangle bao gồm 5 sóng có cấu trúc sóng bên trong theo dạng 5-3-5-3-5.

Article Tags:
Article Categories:
MMO
    http://linholiver.com

    https://linholiver.com/diary/about/